BREAKING NEWS
Hiển thị các bài đăng có nhãn tham quan trên đảo phú quý. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tham quan trên đảo phú quý. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 11 tháng 1, 2015

Điểm du lịch Phú Quý lễ 30-4: Hòn Tranh


    Huyện đảo Phú Quý được xác định là một trong những đảo trọng điểm của hệ thống các đảo của Việt Nam. Nằm trên tuyến giao thông đường thuỷ nội địa và quốc tế, cách thành phố Phan Thiết 120km về hướng Đông Nam. Phú Quý là quần đảo gồm 10 hòn đảo lớn nhỏ, trong các hòn đảo nằm xung quanh đảo Phú Quý, hòn Tranh có diện tích lớn nhất và đây cũng là nơi thu hút nhiều du khách đến thhăm quan chiêm ngưỡng những cảnh đẹp còn mang đậm nét hoang sơ và lãng mãn.

    Hòn Tranh, một hòn đảo nhỏ nằm giữa bốn bề sóng vỗ, cách đảo lớn (Phú Quý) khoảng 15 phút đi xuồng máy. Hòn Tranh nổi lên như một niềm kiêu hãnh giữa đại dương bao la ngập sóng. Gọi là hòn Tranh, vì lúc xưa nơi đây mọc nhiều cỏ tranh, người dân từ hòn lớn qua hòn Tranh làm rẫy, cắt cỏ tranh về lợp mái nhà. Theo những người cao tuổi ở đảo kể lại: “trước đây, hàng năm vào mùa gió Bấc, hải vật thường tấp vào bãi nồm của hòn Tranh, người ta lập đội Hải Môn để đi lấy. Trên hòn Tranh có Miếu thờ một vị tướng đã bảo vệ cho Nguyễn Phúc Ánh khi bị quân Tây sơn truy đuổi, được sắc vua Minh Mạng phong chức “Bắc Quân Đô Đốc Phủ Chưởng Phủ Sư Tạng Thái Bảo Trấn Thủ Quân Chi Thần”. Năm 1976, Tôn Thất Quỳ, nha phái viên hành chính của chế độ cũ đặt thêm trong Miếu thờ ảnh Vua Gia Long.

    Đi dọc theo ven biển phía Nam hòn Tranh, ta sẽ đến vũng Gấm, vũng Bàn, mũi Xương cá, vũng Phật…nơi đây có nhiều loại đá bột, có thể khắc tượng rất tốt. Tượng Thích Ca Mâu Ni ở Linh Sơn Trà (tức chùa Linh Quang Tự) ở xã Tam Thanh, được ông Huỳnh Khâm tạo bằng loại đá này vào đầu thế kỷ XX. Hòn Tranh còn có hang Cò Nước và hang Cò Khô là nơi nghỉ đêm của nhà họ cò. Trong hang cò Khô có nhiều hốc đá vào mùa gió Bấc, cò thường về đây để sinh sôi nảy nở. Nơi đây, năm 1945 dân đảo Phú Quý tập trung vũ khí để chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền.
    Dọc theo bãi trước phía Tây hòn Tranh, là một dải cát trắng mịn đậm nét hoang sơ và lãng mạn. Du khách đến hòn Tranh để hoà nhập với thiên nhiên, thả hồn theo lời ru của gió, đắm mình trong sự mát dịu của nước biển trong xanh, hoặc có thể ngẩn ngơ khi hoàng hôn rắc đầy trên sóng. Một vẻ đẹp không kiêu xa nhưng quyến rủ. Hòn Tranh còn có rừng dương và những cây phong ba, dứa dại…đang non tô mơm mởm vươn mình đón nắng và gió của trời và đại dương bao la, với sức sống mãnh liệt, chịu thương, chịu khó như những người lính đóng quân trên hòn đảo nhỏ này. Một điều lý thú, khách đến đây có thể trải bạt ngồi quây quần bên nhau để thưởng thức những món ăn dân dã mà tuyệt vời của biển.
    Trên đảo hòn Tranh, một hệ thống đường bê tông hóa được làm bao quanh đảo thật kiên cố. Động thực vật ở hòn Tranh cũng vô cùng phong phú, dứa dại là nguồn thực phẩm quý bổ dưỡng, hệ thống bụi rậm là nơi cư ngụ cho một số loại động vật trên cạn như: Tắt Kè, Rắn biển, Thằn lằn đá, cua Dẹp…Đến với hòn Tranh của đảo Phú Quý, du khách có dịp tận hưởng một không khí trong lành, làn nước biển trong xanh, du khách có thể thỏa thích bơi lặn dưới đáy biển chiêm ngưỡng những dãy san hô kỳ thú, ngoài thú tắm biển, du khách còn tự tạo cho mình thú vui đi bắt cua, ghẹ trong các gộp đá ven biển hoặc bắt ốc các loại. Đây là những món ăn ngon lạ để du khách nặng lòng với hòn Tranh.
    Ngoài những cảnh đẹp thiên nhiên, du khách đến với hòn Tranh sẽ thật cảm động trước tình cảm của những người lính Hải quân lúc nào cũng nhiệt tình đón và giới thiệu cảnh quang với khách. Trưa đến, nếu muốn du khách có thể tổ chức ăn trưa dưới những tán cây phong ba do lính đảo trồng nhằm tạo màu xanh cho đất. Trong bữa ăn, vui chuyện người lính sẵn sàng kể những chuyện vui, buồn trên đảo với khách. Mặc dù còn nhiều khó khăn, thiếu thốn về tinh thần, nhưng với sự động viên và những tình cảm sâu đậm từ đất liền, cán bộ chiến sĩ càng có thêm sức mạnh để vượt qua những khó khăn, quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo của Tổ quốc.
    Đứng bên đảo hòn Tranh, phóng tầm mắt về hòn lớn (đảo Phú Quý) là cảng tàu sầm uất và đồi dương xanh rì bên dải cát trắng. Những tháng trời êm, biển lặn, dân địa phương mỗi lần ra đảo hòn Tranh mang theo cả bếp, nồi, bắt cá, cạy hào rồi tự chế biến thành các món luộc, nướng tươi ngọt giữa biển trời mà cảm nhận sự sảng khoái của thiên nhiên. Một chút phiên lưu, mạo hiểm của chuyến du lịch bụi hết sức rẻ tiền nhưng đầy thú vị, du khách sẽ thoải mái tham quan, khám phá biết bao điều kỳ thú của đảo hòn Tranh.
    Những năm gần đây, hòn Tranh đang dần trở thành điểm đầy hứa hẹn về đầu tư du lịch sinh thái biển của huyện đảo Phú Quý. Nhằm khai thác tiềm năng phong phú và đa dạng của hòn Tranh. Với cơ chế, chính sách thông thoáng, khuyến khích đầu tư vào du lịch của Trung ương và tỉnh, huyện Phú Quý mong nhận được sự hợp tác của các doanh nghiệp trong và ngoài nước cùng đến với vùng đất đầy hứa hẹn và hấp dẫn của hòn Tranh Phú Quý.

Điểm du lịch Phú Quý lễ 30-4: Vạn Anh Thạnh

Đảo Phú Quý có bề dày lịch sử và truyền thống văn hóa lâu đời. Với hơn 30 di tích Lịch sử – Văn hóa đủ mọi loại hình và niên đại trải đều trên một diện tích tự nhiên gần 17,82 km2 của đảo là một bằng chứng lịch sử sinh động chứng minh cho quá trình khai phá và xây dựng đảo của người Việt Nam. Các di tích đó còn nói lên sức sống mãnh liệt của nhân dân qua hàng trăm năm giữa biển khơi, làm rạng rỡ nguồn gốc con người Việt Nam nơi hải đảo xa xôi. Vạn An Thạnh là một điển hình, Vạn tọa lạc trên một bãi cát trắng sát cạnh bờ biển thuộc làng Triều Dương, xã Tam Thanh, huyện Phú Quý. Vạn ở vị trí cách trung tâm huyện lỵ Phú Quý 2.5km về hướng Đông Nam và cách UBND xã Tam Thanh 1km về hướng Đông. Tên gọi Vạn An Thạnh nói lên ước nguyện có một cuộc sống an khang, thịnh vượng của bà con ngư dân nơi đây.



Từ bao đời nay, đánh bắt hải sản là nghề chủ đạo của ngư dân Phú Quý. Sống giữa một môi trường biệt lập, bốn bề là đại dương bao la, những nhân tố đó đã hình thành nên một sắc thái địa phương ở xứ đảo. Lâu nay, ngư dân Phú Quý có một niềm tin tưởng mãnh liệt vào sự linh hiển của cá Ông (cá Voi) và coi đó là vị thần cứu trợ luôn ở bên cạnh họ trong những chuyến biển đầy hiểm nguy. Trong ngư dân Phú Quý lưu truyền rất nhiều sự tích nói về sự linh thiêng của Thần Nam Hải. Những sự tích đó được đúc kết dưới dạng những câu thơ, bài hát, điệu hò dân gian. Mặc dù đó chỉ là những sự tích ít nhiều mang tính huyền thoại, nhưng đối với ngư dân thì họ tuyệt đối tin tưởng. Bởi vì họ là những người từng bị sóng gió vùi dập, và chính từ trong cơn hiểm nghèo đó họ đã chứng kiến Thần Nam Hải đến cứu mình. Trước kia phương tiện đi biển rất thô sơ, với chiếc thuyền con mộc mạc nhỏ bé nên con người chủ yếu dùng chính sức lực của mình để chèo chống khi có giông tố bất ngờ ập đến. Và trong cơn hoạn nạn, ngư dân thường khấn vái rằng… “Phục vận Nam Hải sanh thần linh thiêng hiển hích cứu hộ chúng dân tai qua nạn khỏi…”. Khi đó thần Nam Hải sẽ linh ứng xuất hiện, tựa thân mình vào thuyền và dìu dắt vô bờ xuôi theo chiều gió. (Như chúng ta đã biết, theo khoa học thì cá Voi là một động vật biển thở bằng phổi nên thường ngoi lên mặt nước để thở. Lúc sóng to gió lớn cá Voi thường tìm những vật lớn để nương tựa vào nhau tránh bị sóng gió vùi dập. Những lúc đó cả hai nương tựa vào nhau, có lợi cho nhau thoát cơn hiểm nghèo).
Ở Phú Quý có sự tích kể rằng: Ngày xưa Nguyễn Ánh có lần bị quân Tây Sơn truy đuổi đã chạy ra đảo tránh nạn. Ông đã thoát chết vì được cá Ông cứu nạn qua cơn giông tố giữa biển khơi. Đó là nguyên nhân mà về sau các vua triều Nguyễn đã phong tặng cho cá Ông tước hiệu “Nam Hải cự tộc Ngọc Lân thượng đẳng thần”. Hiện ở đảo có rất nhiều di tích liên quan đến Nguyễn Ánh và một số vị tướng lĩnh của Ông như: Giếng Gia Long, Miếu Trấn Bắc (bên đảo Hòn Tranh – một hòn đảo nhỏ nằm về phía đông nam và cách đảo Phú Quý khoảng 2km) và chùa Linh Quang. Ở bên Hòn Tranh có miếu thờ Bùi Huy Ích là Đô Đốc tùy tướng bảo vệ Nguyễn Ánh, giúp cho Nguyễn Ánh trốn chạy khỏi Tây Sơn. Đến đời vua Thiệu Trị phong cho Bùi Huy Ích là Thượng đẳng thần. Nội dung sắc phong ghi: “Cung thỉnh Trấn Bắc quân Đô Đốc Phủ chưởng phủ sự thái bảo Bùi Quận công thượng đẳng thần”.
Dân tộc ta có truyền thống “uống nước nhớ nguồn” và tôn trọng công lao của ông bà trong sự nghiệp khai phá, tạo dựng ngày trước. Vạn An Thạnh là một trong những biểu hiện tiêu biểu của truyền thống đáng quý đó. Vạn thờ cá Ông cùng thờ Thành hoàng bổn xứ và Tiền hiền, Hậu hiền. Theo tài liệu để lại thì Vạn An Thạnh được tạo dựng vào năm Tân Sửu (1781), là Vạn có niên đại sớm nhất so với các Vạn khác ở Phú Quý. Thuở sơ khai Vạn chỉ là một bộ khung gỗ lợp tranh vách lá bấy giờ chưa có “Ngài” nào trôi dạt lên đảo. Đến năm Tân Sửu (1841) mới có “Ngài” đầu tiên “Hóa” (chết) dạt vào bãi cát trước Vạn. Bà con ngư dân đã tổ chức lễ mai táng long trọng. Vị này to lớn và là vị đầu tiên trôi dạt lên đảo nên được gọi là “Vị Cố”. Hiện nay trên khám thờ thần Nam Hải ở Vạn An Thạnh còn lưu giữ bức Thần chú thờ Vị Cố có chạm dòng chữ Hán cổ “Nam tế Hải linh cự tộc Ngọc Lân thủy tướng tôn Thần, Tân Sửu Niên, Thập ngoạt thập ngũ nhật tị thời”. Từ đó đến nay Vạn lấy ngày 15 tháng 10 làm ngày giỗ Vị Cố và đây cũng là dịp Tế thu của Vạn. 
Nhà trưng bày xương cá Voi xây dựng hoàn thành năm 2010

Vạn An Thạnh là di tích kiến trúc tôn giáo liên quan đến tín ngưỡng ngư nghiệp. Vạn ẩn mình dưới những hàng dừa xanh bao phủ, hướng chính quay về phía nam nhìn thẳng ra biển khơi. Các bộ phận kiến trúc chính của vạn gồm Chính điện, Võ ca và Tiền hiền được bố trí dạng chữ Tam (). Ngoài ra, trong khuôn viên còn có các bộ phận phụ khác như: Khu mai táng xác ông bà, công quán, cổng vào, án phong, nhà khói… 
Hiện nay Vạn lưu giữ gần 100 bộ hài cốt (gồm cá voi, rùa da), bà con ngư dân coi đó là hài cốt của ông bà nên tôn thờ với những nghi thức kính cẩn. Với gần 100 bộ hài cốt cá ông, rùa biển đủ niên đại, kích cỡ, Vạn An Thạnh là nơi có một bộ sưu tập phong phú về cá ông rất có giá trị trong việc nghiên cứu sinh vật biển đối với các nhà hải dương học. Tại Vạn còn lưu giữ bộ xương cá Nhà Táng thuộc họ cá Voi, bộ xương có chiều dài trên 17m, có 50 đốt xương, cá có 30 đôi răng mọc ở hàm dưới (tương truyền lúc cá mới dạt vào bờ nặng khoảng 40 tấn). Đây là bộ xương cá Voi lớn thứ hai ở Bình Thuận (sau bộ xương cá Voi ở Vạn Thủy Tú, Phan Thiết). Hiện nay, Vạn An Thạnh được Nhà nước và nhân dân đầu tư trên 8 tỉ đồng để trùng tu xây dựng Vạn và Nhà trưng bày xương cá Voi cùng một số hạng mục khác.
Theo tập quán xưa nay, khi có Ngài “lụy” trôi dạt lên đảo, bà con ngư dân sẽ tiến hành nghi lễ rất long trọng tại Vạn và sau đó mai táng. Sau 24 tháng (đối với “ngài” vừa và nhỏ) và 36 tháng (đối với “ngài” lớn) ngư dân sẽ tiến hành nghi thức thượng ngọc cốt ông bà lên đưa vào Tẩm tôn thờ. 
“Nam Hải dương oai phò hà hải
Thần ân quy mộ hộ vạn trung”
(Thần Nam Hải dương oai phò hộ ngư dân ngoài biển cả
Khi về mộ Thần vẫn linh hiển phò hộ chúng dân)
Tại Vạn An Thạnh thường xuyên diễn ra các lễ hội như: Lễ hội tế xuân: Kéo dài từ mùng 10 đến 20/1 âm lịch, đây cũng là dịp Cầu Ngư đầu năm của Vạn. Đây là lễ tế Thần đầu năm để cầu quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mùa màng thắng lợi. Lễ hội tế xuân của Vạn An Thạnh, ngoài việc tế Thần đầu năm còn gắn liền với mục đích cầu ngư. Ngoài những nghi thức hành lễ theo tập tục cổ truyền (vật dâng tế Thần Nam Hải, nhang đèn, chuông trống, văn tế Thần và Tiền hiền, Hậu hiền) là những sinh hoạt văn hóa, vui chơi giải trí thu hút đông đảo bà con ngư dân xứ đảo. Đây cũng là dịp để hướng mọi người quay về cội nguồn, tổ tiên và truyền thống lâu đời của dân tộc.
 Lễ giỗ vị cố: Tiến hành vào ngày 15/10 âm lịch, đây cũng là dịp Tế Thu của Vạn. Ngoài những nghi thức hành lễ long trọng như lễ tế xuân, còn có thêm nghi thức rước ông Sanh từ biển khơi. Ngư dân tổ chức ghe thuyền, cờ trống ra khơi nghinh đón những vị thần sống về vạn chứng kiến ngày tế lễ. Những bài văn tế Thần, Tiền hiền và Hậu hiền được đọc long trọng trong buổi lễ. Hiện nay Vạn An Thạnh còn lưu giữ bài văn tế dày 124 trang viết bằng chữ Hán cổ được lưu truyền từ đời này qua đời khác.
Trong lễ hội tế xuân và tế thu của Vạn An Thạnh, có các loại hình văn hóa dân gian như dân ca nghi lễ, hát chèo bả trạo… là những làn điệu cổ truyền rất độc đáo của ngư dân Phú Quý. Những sinh hoạt văn hóa truyền thống đó không thể thiếu trong ngày hội văn hóa của toàn dân. Đây là dịp để mọi người ôn lại truyền thống khai phá xây dựng đảo, tăng cường tình đoàn kết, mối tương thân tương ái giữa các ngư dân, củng cố và tăng cường sức mạnh trong sự nghiệp lao động và xây dựng đảo Phú Quý ngày càng sung túc hơn.
Ngoài gần 100 bộ xương cốt là những di vật chính ở đây, Vạn An Thạnh còn nhiều hiện vật quan trọng khác tạo nên di sản văn hóa của ngư dân vùng đảo: bao gồm tượng thần “Thủy lân”, gia phả, văn tế, sắc phong, hoành phi, liên đối. Vạn An Thạnh là một trong những di tích cổ ở đảo Phú Quý được các vua triều Nguyễn phong tặng số lượng sắc tương đối nhiều. Nội dung sắc thần chủ yếu ban tặng “Thần Nam Hải cự tộc ngọc lân” và những tướng lĩnh có công giúp Nguyễn Ánh chạy nạn và chết ở đảo. Có tất cả 10 sắc thần gồm những đời vua Tự Đức, Đồng Khánh, Duy Tân … ban.
Vạn An Thạnh được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng di tích cấp Quốc gia, tại Quyết định số 51/QĐ/BT ngày 12/01/1996. Ngoài những giá trị văn hóa dân gian truyền thống Vạn An Thạnh là một Bảo tàng văn hóa biển tồn tại đã 219 năm (tính đến năm 2010), với nhiều sưu tập những chủng loại cá voi và rùa da. Có thể xếp vào hạng các Bảo tàng về biển có niên đại cổ xưa trên thế giới. Trong những năm gần đây nhiều nhà nghiên cứu về Hải dương học, những đoàn khách du lịch nước ngoài đến đảo đã rất thích thú về việc bảo quản, giữ gìn di vật trong Vạn An Thạnh. Vạn An Thạnh như một chứng nhân bao đời của lịch sử vùng đảo. Những giá trị về lịch sử, văn hóa, nghệ thuật và văn học dân gian sẽ được kế thừa tiếp tục phát triển những điểm tốt, hạn chế và loại bỏ dần những biểu hiện tiêu cực trong lễ nghi để sẵn sàng chuyển giao tốt cho các thế hệ mai sau

Điểm du lịch Phú Quý lễ 30-4: CHùa Linh Quang



Chùa Linh Quang tọa lạc tại xã Tam Thanh Huyện Đảo Phú Quý. Do ông Nguyễn Cánh sáng lập năm Cảnh Hưng thứ tám (1747). Sau khi ông Nguyễn Cánh qui tịch, người kế thừa là ông Nguyễn Khách. Ban đầu Chùa Linh Quang chỉ là một thảo am do Ngài Nguyễn Cánh dựng lên để làm nơi tu hành, đồng thời cũng là nơi nương tựa tâm linh giữa biển khơi mênh mông của người dân xứ Đảo. Theo Thiền phả Chùa Linh Quang còn lưu giữ lại cho biết trước khi qui tịch ông Nguyễn Cánh đã giao lại cho con là Nguyễn Khách ngôi thảo am này với một số pháp khí: 3 bộ kinh, 12 pho tượng Quan Thế Âm bằng đồng, 1 pho tượng Địa Tạng bằng gỗ, 1 chuông đồng, 19 đĩa sứ, 10 chén sứ và 6 cổ bòng bằng sứ.

Cuối thế kỷ XVIII, Chùa đã bị hỏa hoạn, những pháp khí này đã bị tiêu hủy chỉ còn lại một ít tượng Phật (hiện nay vẫn còn lưu giữ ở Chùa). Chùa Linh Quang đã được dân làng trùng tu nhiều lần.

Lần thứ nhất vào năm 1941.

Lần thứ hai vào năm 1956.

Lần thứ ba vào năm 1972.

Lần thứ tư đại trùng tu vào năm 1992. Công cuộc trùng tu này rất qui mô, tạo thành một quần thể kiến trúc thẩm mỹ, vừa duy trì đường nét cổ kính, vừa mang tính hiện đại. Chùa được xây dựng quay về hướng Tây, bố trí theo dạng chữ Đinh gồm tòa Chánh điện, cổng Tam Quan, nhà Hội quán và nhà Tăng .

Tòa chánh điện là công trình kiến trúc chính của Chùa với kiểu dáng và hình khối có tính thẩm mỹ cao, phía trước có cổ lầu là điện thờ Phật, ở trung tâm điện thờ Phật lại nổi lên tòa cổ lầu thứ hai, trên nóc những cổ lầu này được trang trí lưỡng long tranh châu, rồng phượng uyển chuyển, mềm mại giữa bầu trời xanh bao la, làm cho người ngắm cảnh thấy thanh thoát trong lòng.

Chánh điện thờ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, tả hữu là Bồ Tát Văn Thù, Phổ Hiền, bậc thấp hơn tôn trí 3 pho tượng Phật cổ, đó là tượng Phật Thích Ca bằng san hô, tượng Bồ Tát Quan Thế Âm và Đại Thế Chí bằng đồng. Pho tượng Phật Thích Ca Mâu Ni bằng đá là chứng tích linh thiêng của Chùa. Tương truyền rằng: Khi mới tạo dựng Chùa, dân làng thường thấy ở eo biển Hòn Tranh có một tảng đá san hô thường nổi lên vào những ngày lành tháng tốt. Dâu chúng thấy điều lạ liền cầu nguyện Đức Phật và đã vớt được tảng đá này, đem về Chùa Linh Quang tạc pho tượng Phật Thích Ca để thờ. Chỗ tảng đá nổi ngày ngay người ta gọi là “Vũng Phật”.
Bàn bên tả chánh điện thờ Bồ Tát Chuẩn Đề, bàn bên hữu thờ Quan Thánh Đế Quân, chung quanh tượng phía trước chánh điện chạm 12 bức phù điêu diễn tả lại cuộc đời của Đức Phật Thích Ca. Chánh điện được trang trí hoành phi, liễn đối, bao lam được sơn son thiếp vàng rất rực rỡ.

Câu đối ở chánh điện:

Đạo tràng trang nghiêm, hồng ân chiếu diện tín hữu trụ viên đàng.

Tam Bảo huy hoàng, Từ Quang phổ độ chúng sanh thường an lạc.

Tạm dịch:

Đạo tràng trang nghiêm, ơn sâu soi xét cho đạo hữu sum họp với nhau.

Ngôi Tam Bảo sáng lạng, cứu độ chúng sanh mãi an vui.

Nhà Tổ, chính giữa là khám thờ Tổ được chạm khắc lộng lẫy, thờ Tổ Thông Ân Hữu Đức và Long vị Chư Tôn Hòa Thượng người gốc Đảo, xuất phát từ Chùa Linh Quang và đi hoằng hóa khắp nơi trong đất liền như Hòa Thượng Quảng Thành, Vĩnh Sung, Tường Vân, Tục Huệ, Tường Quang…

Đặc biệt có một Long vị thờ Ngài sáng lập ghi “Đại Thí Chủ khai sơn Linh Quang Tự Tánh húy Nguyễn Cánh, Nguyễn Khách chơn linh”.

Hai bên bàn Tổ là khám thờ Chư tiên linh, đối diện với bàn Tổ là khám thờ Ni sư Như Nhiếp, vị Ni sư theo truyền thuyết đã tu hành chứng đạo, có thần thông tự tại. Ni sư đã đến hoằng hóa ở Chùa Linh Quang một thời gian sau đó ẩn hóa nơi nào không ai biết.

Chùa hiện còn lưu giữ rất nhiều cổ vật, ngoài một số pho tượng đồng, gỗ, đá có một Đại Hồng Chung do Hòa Thượng Quảng Thành tạo 5 Đạo Sắc do các Vua triều Nguyễn: Tự Đức, Đồng Khánh, Duy Tân, Khải Định sắc phong.

Chùa Linh Quang có thể nói là một trong những ngôi Chùa cổ xưa nhất ở Đảo Phú Quý, là một Tổ Đình có nhiều đời Hòa Thượng xuất thân từ đây. Hiện nay Chùa do Ban hộ tự quản lý trông nom.
 
Back To Top
Copyright © 2014 LE HOI. Designed by OddThemes