BREAKING NEWS
Hiển thị các bài đăng có nhãn tin tức du lịch. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tin tức du lịch. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 3 tháng 3, 2015

Những Vị Tướng VNCH đã Tự Sát 30/04/1975

Những Vị Tướng Tự Sát :
* Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư Lệnh Quân Ðoàn 4 (1927-1975)

Vào lúc 11 Giờ 30, ngày 30.04.75, Thiếu Tướng Nam sau khi từ giã các binh sỉ đã tự kết liễu đời mình.

* Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Tư Lệnh Phó Quân Ðoàn 4 (19??-1975 )

Tướng Hưng đã được vinh danh “Anh Hùng An Lộc” trong mùa hè đỏ lửa 1972 ở chiến trường An Lộc Bình long. Tướng Hưng đã tự sát vào tối ngày ngày 30.04.75 tại văn phòng riêng ở bộ chỉ huy phụ của Quân đoàn 4 (đồng thời là nơi gia đình Tướng Hưng tạm cư trú), sau khi nói lời từ giã với gia đình và bắt tay từ biệt tất cả quân sĩ bảo vệ bộ chỉ huy. Sau đó, ông đã quay vào văn phòng, khóa chặt cửa và tự sát bằng súng lục vào lúc 8 giờ 45 phút tối.

* Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ, Tư Lệnh Sư Ðoàn 5 Bộ Binh (1933-1975)

Sau khi nhận được lệnh phải đầu hàng, Tướng Vỹ đã tự sát bằng súng lục vào lúc 11 Giờ, ngày 30.04.75 tại tổng hành dinh ở Lai Khê.

* Chuẩn Tướng Trần Văn Hai, Tư Lệnh Sư Ðoàn 7 Bộ Binh (1925-1975)

Vào đêm ngày ngày 30.04.75, Thiếu Tướng Hai đã tự sát tại trung tâm Ðồng Tâm.

* Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh Quân Ðoàn 2 (1928-1975)

Thiếu Tướng Phú là người trách nhiệm trong cuộc hành quân triệt thoái quân dân khòi ba tỉnh Cao Nguyên, đã bị thất bại nặng nề và đau đớn nhất trong quân sử cận đại. Tướng Phú tự tử tại nhà vào ngày 30.04.75.

* Ðại Tá Hồ Ngọc Cẩn (1940-1975)

Ðại Tá Hồ ngọc Cẩn đã anh dũng chiến đấu tới cùng và không chịu đầu hàng. Ðại Tá Cẩn đã bị quân cộng sản đem ra xử trước công cộng và sau đó bị xử bắn tại chỗ.

* Ðại Tá Ðặng Sĩ Vinh

Vào lúc 2 giờ ngày 30.04.75, hai tiếng đồng hồ sau khi Dương Văn Minh ra lịnh đầu hàng, Ðại Tá Vinh, cùng gia đình gồm vợ và bảy người con đã tự tử bằng súng lục.

* Trung-Tá Cảnh-Sát Nguyễn-Văn-Long

Trung-Tá Cảnh-Sát Nguyễn-Văn-Long tuẩn tiết sáng 30-4-75 dưới chân tượng đài Thủy quân lục chiến.

Những Vị Tướng đã rời Việt Nam trước ngày mất nước 

01. Trung Tướng Nguyễn văn Thiệu, Tồng Thống kiêm Tư Lệnh Việt Nam Cọng Hoà. Lúc từ chức (ngày 21 tháng 4, 1975), ông tuyên bố là ông trở về quân đội để tiếp tục chiến đấu. Ngày 25,4,1975 ông Thiệu cùng ông Trần Thiện Khiêm rời Việt Nam trên một chuyến bay do Toà Ðại Sứ Hoa Kỳ tổ chức.

02 Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm, Thủ Tướng Kiêm Tồng Trưởng Quốc Phòng – từ chức thượng tuần tháng tư 1975 và rời Việt Nam cùng lúc với Nguyễn văn Thiệu .

03 Ðại Tướng Cao văn Viên, Tồng Tham Mưu Trưởng, Quân Lực Việt Nam Cọng Hoà.

04 Trung Tướng Ðặng văn Quang, Phụ Tá An Ninh Quốc Gia, Phủ Tổng Thống.

05 Trung Tướng Lê Nguyên Khang, Phụ Tá Tồng Tham Mưu Trưởng, Quân Lực Việt Nam Cọng Hoà.

06 Trung Tướng Ðồng văn Khuyên, Tham Mưu Trưởng, Tổng Tham Mưu, Kiêm Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận.

07 Trung Tướng Trần văn Trung, Tổng Cục Trưởng, Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị.

08 Trung Tướng Phan Trọng Chinh, Tổng Cục Trưởng, Tổng Cục Quân Huấn.

09 Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư Lệnh Quân Ðoàn 1, Quân Khu 1. Người hùng của chiến trường Thành nội Huế hồi Tết Mậu Thân 1968 và chiến trường Huế-Quảng Trị trong trận chiến Mùa Hè đỏ lửa 1972.

10 Trung Tướng Nguyẽn văn Toàn, Tư Lệnh Quân Ðoàn 3, Quân Khu 3.

11 Trung Tướng Nguyẽn văn Minh, Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Ðô.

12 Trung Tướng Lâm Quang Thi, Tư Lệnh Phó Quân Ðoàn 1.

13 Thiếu Tướng Hoàng Lạc, Tư Lệnh Phó Quân Khu 1.

14 Chuẩn Tướng Trần văn Nhựt, Tư Lệnh Sư Ðoàn 2 Bộ Binh.

15 Thiếu Tướng Nguyễn duy Hinh, Tư Lệnh Sư Ðoàn 3 Bộ Binh.

16 Chuẩn Tướng Phan Ðình Niệm, Tư Lệnh Sư Ðoàn 22 Bộ Binh.

17 Chuẩn Tướng Lê Quang Lưỡng, Tư Lệnh Sư Ðoàn Nhảy Dù.

18 Chuẩn Tướng Bùi Thế Lân, Tư Lệnh Sư Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến.

19 Phó Ðề Ðốc (Trung Tướng) Chung Tấn Cang, Tư Lệnh Hải Quân.

20 Trung Tướng Trần văn Minh, Tư Lệnh Không Quân.

21 Thiếu Tướng Võ xuân Lành, Tư Lệnh Phó Không Quân.

22 Chuẩn Tướng Ðổ Kiến Nhiễu, Ðô Trưởng Sài Gòn.

23 Thiếu Tướng Nguyẽn Khắc Bình, Tư Lệnh Cảnh Sát kiêm Ðặc Uỷ Trưởng Tình Báo Trung Ương, cùng các vị Tướng nắm giữ các ngành của lực lượng Cảnh Sát.

Những Vị Tướng đã rời Việt Nam trong ngày mất nước : 

01 Thiếu Tướng Nguyễn cao Kỳ, cựu Tư Lệnh Không, cựu Phó Tổng Thống. Những ngày cuối cùng, ông tuyên bố là sẽ rút về đồng bằng sông Cửu Long tổ chức tử thủ.

02 Trung Tướng Vĩnh Lộc, nhận chức Tồng Tham Mưu Trưởng, Quân Lực Việt Nam Cọng Hoà lúc 3 giờ chiều 29.04.1975.

03 Chuẩn Tướng Nhuyễn Hữu Tần, Tư Lệnh Sư Ðoàn 4 Không Quân, kiêm Tư Lệnh Không Quân từ ngày 29.04.1975.

04 Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Chức, nhận chức Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận lúc 5 giờ chiếu 29.04.1975. Khi nhận chức ông nói rằng: Nếu không xong thì ông xuống Cần Thơ đem Liên Ðoàn 7 Công Binh Kiến Tạo lên Thất Sơn (tỉnh Châu Ðốc) tổ chức chiến đấu.

Những Vị Tướng đã bị Kẹt Lại

Những Vị bị Cộng Sản đày đọa trong các trại tù tập trung từ 12 năm đến 17 năm

01 Trung Tướng Nguyễn vĩnh Nghi, Tư Lệnh Tiền Phương của Quân Ðoàn 3 tại chiến trường Phan Rang, bị bắt khi thất thủ. http://vi.wikipedia.org/wiki/Nguyễn_Vĩnh_Nghi

02 Chuẩn Tướng Phạm ngọc Sang, Tư Lệnh Sư Ðoàn 6 Không Quân, bị bắt cùng Trung Tướng Nguyễn vĩnh Nghi khi chiến trường Phan Rang thất thủ.

03 Chuẩn Tướng Trần văn Cẩm, Tư Lệnh Phó, Quân Ðoàn 2.

04 Chuẩn Tướng Lê Trung Tường, Tham Mưu Trưởng Quân Ðoàn 3.

05 Chuẩn Tướng Huỳnh văn Lạc, Tư Lệnh Sư Ðoàn 9 Bộ Binh.

06 Thiếu Tướng Lê minh Ðảo, Tư Lệnh Sư Ðoàn 18 Bộ Binh.

07 Chuẩn Tướng Mạch văn Trường, Tư Lệnh Sư Ðoàn 21 Bộ Binh.

08 Thiếu Tướng Lý tòng Bá, Tư Lệnh Sư Ðoàn 25 Bộ Binh.

09 Ðại Tá Nguyễn Ðình Vinh, Tư Lệnh Phó Quân Khu 4.

10 Thiếu Tướng Ðỗ Kế Giai, Chỉ Huy Trưởng binh chủng Biệt Ðộng Quân.

11 Chuẩn Tướng Phạm duy Chất, Chỉ Huy Trưởng Biệt Ðộng Quân Quân Khu 2, chỉ huy cuộc hành quân rút bỏ tỉnh Cao Nguyên hồi tháng 3.1975.

12 Ðại Tá Nguyễn Thành Trí, Tư Lệnh Phó Sư Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến.

13 Ðại Tá Lê hữu Ðức, Quyền Tư Lệnh Phó Sư Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến.

14 Chuẩn Tướng Lê văn Thân, Tư Lệnh Phó Biệt Khu Thủ Ðộ. Nhận chức chiều 29.04.1975.

15 Chuẩn Tướng Lê trung Trực, Trường Cao Ðẳng Quốc Phòng.

16 Ðại Tá Nguyễn xuân Hường, Tư Lệnh Lữ Ðoàn 1 Kỵ Binh.

17 Ðại Tá Nguyễn đức Dung, Tư Lệnh Lữ Ðoàn 2 Kỵ Binh.

18 Chuẩn Tướng Trần quang Khôi, Tư Lệnn Lữ Ðoàn 3 Kỵ Binh.

19 Ðại Tá Trần ngọc Trúc, Tư Lệnh Lữ Ðoàn 4 Kỵ Binh.

20 Thiếu Tưóng Trần bá Di, Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung.

21 Chuần Tướng Vũ văn Giai, cựu Tư Lệnh Sư Ðoàn 3 Bộ Binh.

22 Chuần Tướng Lê văn Tư, cựu Tư Lệnh Sư Ðoàn 25 Bộ Binh.

23 Thiếu Tướng Văn Thành Cao, Tổng Cục Phó Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị.

24 Thiếu Tướng Ðoàn văn Quảng, cựu Tư Lệnh Lực Lượng Ðặc Biệt. Chết tại trại tù cải tạo Nam Hà, tỉnh Hà Nam Ninh.

25 Trung Tá Bùi thế Dung, Thứ Trưởng Quốc Phòng trong thành phần chánh phủ chưa kịp trình diện.

26 Hải Quân Ðại Tá Nguyễn văn May, Tư Lệnh Vùng 5 Duyên Hải.

27 Hải Quân Ðại Tá Nguyễn bá Trang, Tư Lệnh Lực Lượng Ðặc Nhiệm Thủy Bộ 211.

28 Hải Quân Ðại Tá Nguyễn văn Tấn, Quyền Tư Lệnh Hải Quân vào những giờ cuối cùng.

29 Thiếu Tướng Cảnh Sát Bùi văn Nhu, Tư Lệnh Phó Cảnh Sát. Chết tại trại tù cải tạo Nam Hà, tỉnh Hà Nam Ninh.

30 Cựu Thiếu Tướng Huỳnh văn Cao, Nghị Sĩ.

31 Chuần Tướng Hồ trung Hậu, Binh Chủng Nhảy Dù, Chánh Thanh Tra Quân Ðoàn 3.

32 Ðại Tá Nguyễn khắc Tuân nhận chức Tham Mưu Trưởng Tổng Tham Mưu chiều 29.04.1975. Chết tại trại tù cải tạo Nam Hà, tỉnh Hà Nam Ninh.

33 Ðại Tá Lại Ðức Chuẩn, Trưởng Phòng Nhất Tổng Tham Mưu

34 Ðại Tá Phạm bá Hoa, Tham Mưu Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận.

35 Ðại Tá Ngô văn Minh, Tham Mưu Trưởng Biệt Khu Thủ Ðô.

36 Ðại Tá Vũ Ðức Nghiêm.

Những Vị bị Cộng Sản đày đọa trong các trại tù tập trung trên 10 năm 

01 Cựu Trung Tướng Nguyễn hữu Có.

02 Cựu Ðề Ðốc Trần văn Chơn.

03 Cựu Thiếu Tướng Nguyễn chấn Á.

04 Cựu Thiếu Tướng Phan Ðình Thứ, Tự Lam Sơn.

05 Ðại tá Ðàm Trung Mộc cưụ Viện Trưởng Học Viện Cảnh Sát QG. Sau 30-4, ông bị giam tại Chí Hòa để rồi tháng 2/1976, ông bị đưa ra Vĩnh Phú rồi về Hà Tây, và ông mất tại đó vào ngày 14/11/1982, thọ 65 tuổi.

Những Vị bị Cộng Sản bị giam chưa đến 3 năm
01 Thiếu Tướng Quân Y Vũ ngọc Hoàn, cựu Cục Trưởng Cục Quân Y.

02 Chuẩn Tướng Quân Phạm bá Thanh, Cục Trưởng Cục Quân Y.

03 Ðại Tá Nguyễn văn Lộc, Tư Lệnh Sư Ðoàn 106 Biệt Ðộng Quân. Sư Ðoàn này thành lập vào những ngảy cuối tháng 4.1975 và bảo vệ vùng Phú Lâm, cửa ngõ phía Tây Sài Gòn. Thời gian trong tù chưa đến một năm.

04 Ðại Tá Dương thanh Sơn, em ruột Tổng Thống Dương văn Minh.

Thứ Tư, 18 tháng 2, 2015

Tin 30-4: Chiến thắng 30-4 và Những bài ca đi cùng năm tháng

Song hành cùng chiến thắng vang dội của quân dân ta, những bài ca hào hùng góp phần làm nên Mùa xuân đại thắng.
30 tháng 4 - ngày giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc gợi nhớ  những bài hát của một thời chiến đấu đầy hy sinh gian khổ, nhưng cũng hào hùng, oanh liệt biết bao!
Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử giải phóng Sài Gòn, giải phóng hoàn toàn miền Nam, chúng ta đã trải qua hai trận quyết chiến chiến lược, giải phóng Tây Nguyên và giải phóng Huế - Đà Nẵng. Qua từng chiến dịch, từng trận thắng lại ra đời những bài hát làm nức lòng người, theo nhịp bước của những đoàn quân đầy khí thế chiến thắng.
Với tinh thần "Kịp thời nhất, nhanh chóng nhất, táo bạo nhất…”, các nhạc sĩ trong và ngoài quân đội lúc bấy giờ đã dõi theo từng bước tiến quân, từng trận đánh để “kịp thời nhất, nhanh chóng nhất” có những bài hát hừng hực khí thế chuyển ra mặt trận, phát trên làn sóng Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV), cổ vũ, động viên kịp thời quân và dân trên từng chặng đường chiến dịch. Cho đến nay, đó vẫn là những ký ức đẹp về một thời đã qua và còn sống mãi trong tâm hồn của nhiều thế hệ.

Đánh Buôn Ma Thuột

Ngày 11/3/1975, quân đội ta giải phóng Buôn Ma Thuột. Đến ngày 24/3, toàn bộ vùng Tây Nguyên rộng lớn với hơn 60 vạn dân được giải phóng. Hàng loạt bài hát đã ra đời, như: Những tiếng ca vang trên đất này (Nguyễn Đức Toàn), Tây Nguyên giải phóng (Kpapúi và Tôn Thy), Hát mừng Tây Nguyên giải phóng (Cầm Phong), Tây Nguyên lại bừng lên tiếng hát (Nguyễn Mạnh Thường), Sông Đăkrông mùa xuân về (Tố Hải)… Những bài hát với âm thanh rộn ràng, hùng tráng, vang vọng như tiếng cồng chiêng trong những ngày lễ hội của đồng bào các dân tộc vùng cao nguyên đất đỏ.
Ngày 25/3, Bộ Chính Trị Trung ương Đảng hạ quyết tâm giải phóng Sài Gòn và toàn miền Nam trước mùa mưa (trước tháng 5/1975). Quân và dân ta triển khai chiến dịch Huế - Đà Nẵng, và đến ngày 26/3 sư đoàn 1 lính ngụy bị ta  tiêu diệt, thành phố Huế và toàn bộ tỉnh Thừa Thiên được giải phóng. Thời điểm này lại vang lên những bài hát mới sáng tác kịp thời: Gửi Huế giải phóng (Nguyễn Văn Thương), Huế của ta ơi (Thanh Phúc), Mùa xuân trên thành phố Huế (Nguyễn Viêm). Tiếp đó là: Các anh về giữa Huế thân yêu (Vũ Thanh), Gió sông Hồng gọi nắng sông Hương (Văn An)…với những âm điệu mang đậm sắc dân ca - dân nhạc của Trị Thiên Huế, dịu ngọt, da diết, nhưng thúc giục lòng người lập chiến công, xây chiến thắng.
Tiếp đến ngày 28/3, quân ta chia làm 5 cánh, đồng loạt tiến công vào Đà Nẵng phối hợp với các lực lượng tiến công và nổi dậy từ trong lòng địch và đến 15h ngày 29/3/75, Đà Nẵng - một căn cứ quân sự liên hợp lớn nhất của Mỹ đã bị tiêu diệt, thành phố được hoàn toàn giải phóng.

Vào Đà Nẵng

Cùng với chiến thắng vang dội ấy, hàng loạt ca khúc đã ra đời, giàu sức cổ vũ, động viên: Chào Đà Nẵng giải phóng (Phạm Tuyên), Đà Nẵng ơi! Chúng con đã về (Phan Huỳnh Điểu), Hát về Đà Nẵng kiên cường (Cao Việt Bách), Đà Nẵng quê ta giải phóng rồi (Nguyễn Đức Toàn), Chào Đà Nẵng, dũng sĩ bên bờ biển Đông (Nguyễn An), Sông Hàn vang tiếng hát (Huy Du)…Các bài hát vào thời điểm sôi động này có sức mạnh thông tấn lớn, là tiếng kèn xung trận có tiếng vang mạnh mẽ trong trái tim từng người dân, từng chiến sĩ.
Các tỉnh Bình Định với thành phố Quy Nhơn, Phú Yên với thị xã Tuy Hòa, Khánh Hòa với thành phố Nha Trang và quân cảng Cam Ranh được giải phóng. Các địa danh này cũng kịp thời vang vọng trong các bài hát như: Bình Định quê ta (Trần Hữu Pháp), Mùa  xuân Quy Nhơn, Mùa xuân Bình Định (Dân Huyền), Quảng Ngãi quê em sáng xuân nay (Ánh Dương), Chào Nha Trang giải phóng (Hoàng Hà), Nha Trang mùa xuân nay biển hát (Thịnh Trường), Những thành phố bên bờ biển cả (Phạm Đình Sáu)…
Từ đầu tháng 4, khắp mọi miền đất nước, tin chiến thắng dồn dập, nhân dân ta đã sống những ngày hào hùng, sôi động chưa từng có. Cả dân tộc ra quân trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử với tinh thần "Đi nhanh đến, đánh nhanh thắng", với khí thế "thần tốc, bất ngờ, táo bạo, chắc thắng"vượt qua mọi gian khổ, hy sinh đi đến ngày toàn thắng - 30/4.
Khi lá cờ cách mạng tung bay trên nóc Phủ Tổng Thống chính quyền ngụy, buộc Tổng Thống ngụy quyền Dương Văn Minh phải tuyên bố đầu hàng không điều kiện thì cũng là lúc quân cách mạng đã làm chủ thành phố. Cả dân tộc trong niềm vui chiến thắng mà trào nước mắt, nhớ lại những ngày máu lửa đã qua, nhớ những người thân, người đồng chí đã ngã xuống không được hưởng niềm vui trọn vẹn này.

Xe tăng quân giải phóng tiến vào Dinh Độc Lập.

Niềm vui lớn lao và vĩ đại ấy đã thành khúc nhạc lời ca vang khắp miền Tổ quốc như: Tiếng hát từ thành phố mang tên Người (Cao Việt Bách - Đăng Trung), Ta đã về Sài Gòn ơi (Văn Dung), Hát về Thành phố tên vàng (Cát Vận), Mùa xuân Việt Nam, mùa xuân toàn thắng (Lưu Cầu), Việt Nam ngày đại thắng (Vũ Thanh), Giữa Sài Gòn giải phóng (Hồ Bắc), Đất nước trọn niềm vui (Hoàng Hà), Đêm Sài Gòn nghe vọng cổ (Dân Huyền), Mùa xuân trên thành phố Hồ Chí Minh (Xuân Hồng)… Và còn nhiều, rất nhiều những ca khúc khác đã đi vào lòng người trong những ngày tháng 5 không thể nào quên cách đây 38 năm.
Những ngày ấy Đài TNVN tấp nập chưa từng thấy. Các bài hát được duyệt, tập và thu thanh luôn tại Phòng thu số 58 phố Quán Sứ. Nhiều người quên cả ăn cố gắng hoàn thành sớm sản phẩm văn nghệ. Một cuộc thi đua rất thầm lặng nhưng không kém phần hối hả để có chất lượng cao nhất.
Từ đầu buổi chiều ngày 30/4, nhạc sỹ Phạm Tuyên liên tục trả lời phỏng vấn báo chí về bài hát “Như có Bác Hồ trong ngày đại thắng”. Thấy ông Tuyên mệt quá, tôi cầm bản nhạc nâng cao lên và nói: Đây là một ca khúc ngắn gọn, dễ thuộc dễ nhớ, ai cũng hát được. Ca khúc này như một tấm “pa nô, áp phích” với kích cỡ cực lớn bằng âm thanh. Bức tranh cổ động ấy chỉ vẽ những đường nét màu sắc hết sức đơn giản, nhưng hiệu quả cổ vũ rất lớn

Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng

Ca khúc này mang tính khái quát, cô đọng, hàm súc như một tuyên ngôn. Hát mà gần như nói, lại được tác giả khống chế trong một âm vực rất hẹp (quãng 9 - quãng này lứa tuổi thiếu nhi rất dễ hát). Điều quan trọng là tất cả mọi người đồng thanh hát ngay được. Hay hơn nữa là ý tứ của ca khúc đã nói lên được hình ảnh Bác Hồ trong ngày vui của toàn dân tộc, mà suốt đời Người hằng mơ ước và phấn đấu cho sự nghiệp thống nhất nước nhà – dù Người đi xa đã hơn 5 năm.
 Đã 38 năm rồi tôi vẫn không quên buổi chiều ấy mà mỗi khi nghĩ đến lại “vui sao nước mắt lại trào”, như lời bài hát của nhạc sĩ Xuân Hồng./.

Thứ Sáu, 13 tháng 2, 2015

Điểm du lịch lễ 30-4: Đảo Kohrong-Thiên đường biển Campuchia


Trước đến giờ nhắc đến Campuchia thì hầu hết du khách biết đến kỳ quan nổi tiếng Angkor hơn cả. Tuy nhiên có một nơi cực kỳ thú vị được mệnh danh là "Thiên đường bị lãng quên" với bãi biển xanh trong vắt màu ngọc lục bảo, cát trắng, nắng vàng đã hớp hồn không ít người lỡ biết và đặt chân đến nơi này, đó chính là Đảo thiên đường Koh Rong.







Koh Rong Island là hòn đảo được tờ báo nổi tiếng thế giới NEW YORK TIMES bình chọn là 1 trong 45 điểm đáng đến nhất trên thế giới, được mệnh danh là Hawaii của Châu Á mà ít người biết đến. Samon Travel hân hạnh mang đến bạn chương trình du lịch độc đáo và ấn tượng – Khám phá ẩm thực mua sắm tại Phnompenh – Hoà mình vào đời sống của người dân tại thành phố biển xinh đẹp Sihanoukville và đặc biệt Đảo Koh Rong Samloem thiên nhiên hoang sơ mà lãng mạn của Hawaii Châu Á. 

Koh Rong Island nằm trong vịnh Thái Lan, cách thành phố biển Shihanoukville 20km. Chỉ với khoảng 2h trên tàu di chuyển trên biển vùng vịnh lặng gió, từ xa du khách sẽ thấy thấp thoáng những bờ cát trắng mịn màng trải dài khắp đảo hòa quyện với màu ngọc lam của nước biển trên nền xanh tươi mát của những cánh rừng mưa nhiệt đới, tạo nên một bức họa đầy màu sắc về nơi đây. Ấn tượng ngay từ cái nhìn đầu tiên, Koh Rong Island càng cuốn hút du khách hơn với hệ sinh vật biển vô cùng phong phú và giàu có.





Đối lập hoàn toàn với Sihanoukville sôi động, Koh Rong Samloem đích thực là một “thiên đường” hoang sơ và dịu êm khiến bạn mê mệt ngay khi đặt chân lên. Bạn sẽ được thư giãn hoàn toàn giữa làn nước biển trong vắt và ấm áp vùng nhiệt đới. Đứng từ xa đã có thể nhận thấy vẻ đẹp “thiên đường” của nơi này với những cầu tàu vươn xa trên nước biển lặng êm màu ngọc bích. Cùng với đó là những bờ cát trắng mịn trải dài ngút ngát nổi bật trên những cánh rừng nhiệt đới xanh mướt phía sau. 



Tour liên quan:

Tour du lịch lễ 30-4: Campuchia- Đảo Kohrong- Sihanouk Ville (4 ngày 3 đêm)

Liên hệ đặt tour:
Nghiêm Nhật Minh
Sales Manager
HP: 0934 022 022
********************************************************************************
VNTOUR CORPORATION
Add       : 244- Pham Van Dong, Ward 1, District Go Vap, HCM City, Viet Nam.
Tel         :  (84-8). 3985.4911– Ext: 111  Fax        :  (84-8). 3985.4907
Skype    : vntourvietnam.                    Yahoo chat    : vntourvietnam
Website : http://vntour.com.vn/           Email     :  Sales6@vntour.com.vn
********************************************************************************


Chủ Nhật, 8 tháng 2, 2015

Tin 30-4: Chiến dịch Hồ Chí Minh- Bản hùng ca bất diệt

Chiến dịch Hồ Chí Minh, chiến dịch cuối cùng của Quân đội nhân dân Việt Nam trong Cuộc tổng tấn công và nổi dậy Mùa Xuân 1975, là chiến dịch quân sự có thời gian ngắn nhất trong chiến tranh Việt Nam. Chỉ diễn ra trong 6 ngày (từ 26/4 đến 30/4/1975) song chiến dịch đã đánh dấu mốc son chói lọi trong lịch sử Việt Nam.
Những ngày cuối tháng 3 năm 1975, chiến dịch giải phóng Sài Gòn đã bắt đầu được chuẩn bị theo tư tưởng chỉ đạo “Thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng” với tốc độ “Một ngày bằng 20 năm”. Bộ chính trị xác định : “Từ giờ phút này, trận quyết chiến chiến lược cuối cùng của quân dân ta đã bắt đầu”.

Ngày 14/4/1975, Bộ chính trị phê chuẩn đề nghị của Bộ chỉ huy chiến dịch, đặt tên chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định là “Chiến dịch Hồ Chí Minh”, phương án chiến dịch được thông qua lần cuối.
Sáng 30/4/1975, Sư đoàn 10, Quân đoàn 3 đánh chiếm Sân bay Tân Sơn Nhất. (ảnh tư liệu)
Để chắc thắng trong trận quyết chiến chiến lược lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã quyết định tập trung lực lượng lớn chủ lực và binh khí kỹ thuật cho chiến dịch, gồm: Quân đoàn 1 (thiếu Sư đoàn 308 ở lại bảo vệ miền Bắc), Quân đoàn 2, Quân đoàn 3, Quân đoàn 4 và Đoàn 232. Tổng số lực lượng là 15 sư đoàn, một lữ đoàn và 4 trung đoàn bộ binh; 20 lữ đoàn, trung đoàn và 8 tiểu đoàn pháo binh; 3 lữ đoàn, trung đoàn và 6 tiểu đoàn tăng thiết giáp; 8 lữ đoàn, trung đoàn và 2 tiểu đoàn đặc công; 4 trung đoàn và 10 tiểu đoàn thông tin; một trung đoàn tên lửa, hai sư đoàn ô tô vận tải, một bộ phận hải quân và không quân, cùng lực lượng địa phương trong địa bàn chiến dịch.
Mít tinh mừng ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng. (ảnh tư liệu)
Bộ Tư lệnh chiến dịch gồm các đồng chí Văn Tiến Dũng làm Tư lệnh, đồng chí Phạm Hùng làm Chính ủy; các đồng chí Lê Trọng Tấn, Trần Văn Trà, Lê Đức Anh làm Phó Tư lệnh, Lê Quang Hòa làm Phó Chính ủy, Lê Ngọc Hiền - quyền Tham mưu trưởng.
Chấp hành chủ trương chiến lược của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, Bộ Tư lệnh chiến dịch đã xác định: “Đánh đòn quyết chiến chiến lược cuối cùng, kết thúc cuộc chiến tranh, giành thắng lợi triệt để”.
Bộ Tư lệnh xác định hướng tiến công chủ yếu của chiến dịch là hướng bắc và tây bắc, trong đó hướng tây bắc là chủ yếu nhất. Hướng đông và tây nam là những hướng hiểm yếu và quan trọng. 5 mục tiêu chủ yếu trong nội thành phải nhanh chóng đánh chiếm là: Bộ Tổng tham mưu ngụy, sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ Tư lệnh biệt khu thủ đô, Tổng nha cảnh sát, Dinh Độc Lập.
Ngày 25/4, mọi công tác chuẩn bị của ta cơ bản đã hoàn thành, các lực lượng chiến dịch đã vào đến vị trí triển khai và sẵn sàng chờ lệnh nổ súng.
Trước đó, ngày 21/4, theo chủ trương của Mỹ, Tổng thống ngụy quyền Sài Gòn Nguyễn Văn Thiệu từ chức, Trần Văn Hương lên thay và kêu gọi “ngừng bắn để thương lượng”.
Ngày 26/4, Trần Văn Hương từ chức để nhường chỗ cho con bài chót của Mỹ là Dương Văn Minh. Song âm mưu của Mỹ chỉ là ảo tưởng. Giờ chết của chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam đã điểm.
17 giờ ngày 26/4/1975, cuộc tổng công kích đánh chiếm Sài Gòn bắt đầu, mở màn cho Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.
Chiến dịch Hồ Chí Minh đã sử dụng đòn tấn công quân sự rất mạnh, áp đảo quân địch, đi trước một bước thúc đẩy, hỗ trợ, tạo đà cho đòn nổi dậy của quần chúng; tạo uy lực lớn lao và thanh thế vang dội của đòn tiến công quân sự của các cánh quân chủ lực; phá vỡ hệ thống ngụy quyền cơ sở, cùng với đòn quân sự đập tan ý chí đề kháng của địch.
Từ ngày 26 đến 28/4, ta tiến công vào tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch, thực hiện bao vây cô lập triệt để Sài Gòn, tạo thêm thế có lợi để thực hành tiến công trên toàn mặt trận.
Ngày 29/4, đòn quân sự của ta đã chặn đánh và tiêu diệt các sư đoàn 22, 25, 5, 18, thủy quân lục chiến, các lữ 1 dù, lữ 3 kỵ binh ở tuyến ngoài của địch Trong khi đó, các lực lượng đặc công, biệt động, bộ đội địa phương đã phá hủy các trận địa pháo, đánh chiếm các đồn bốt, chiếm giữ các cầu vùng ven.
Ngày 30/4/1975, các binh đoàn của ta đã thọc sâu hùng mạnh, tiến chiếm ngay các mục tiêu chiến lược của địch, bắt toàn bộ nội các bù nhìn của địch, buộc Dương Văn Minh phải lên đài phát thanh tuyên bố đầu hàng.
Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, ta đã tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ lực lượng chủ lực, địa phương, cảnh sát thuộc quân khu 3 địch, lực lượng tổng trù bị còn lại và tàn quân của quân đoàn 1, quân đoàn 2. Đập tan hệ thống ngụy quyền từ trung ương đến cơ sở, giải phóng hoàn toàn thành phố Sài Gòn/Gia Định và các tỉnh Tân An, Gò Công, Hậu Nghĩa, Tây Ninh, Bình Dương, Biên Hòa, Long Khánh, Bà Rịa, Vũng Tàu… Tạo điều kiện cho Quân khu 8 và 9 cùng với nhân dân địa phương tiến công nổi dậy tiêu diệt và làm tan rã hoàn toàn quân khu 4 địch và giải phóng đồng bằng sông Cửu Long trong hai ngày 30/4 và 1/5/1975.
Chiến dịch Hồ Chí Minh tuy chỉ diễn ra trong thời gian rất ngắn nhưng là chiến dịch có ý nghĩa chiến lược. Những kinh nghiệm đã phát triển đến đỉnh cao của chiến dịch Hồ Chí Minh đã làm phong phú thêm nền khoa học nghệ thuật quân sự Việt Nam, nhất là nghệ thuật chiến dịch của chiến tranh nhân dân Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.
Lịch sử cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc kéo dài gần một phần ba thế kỷ đang lùi vào quá khứ. Những những giá trị truyền thống và bài học lịch sử của nó thì còn lại mãi mãi với các thế hệ người Việt Nam.

Tin 30-4: Những kỉ vật trong chiến thắng 30/4/1975

Xe tăng đánh chiếm cơ quan đầu não của chính quyền Sài Gòn cũ, bút tích ghi lời đầu hàng của tổng thống Dương Văn Minh... là những kỷ vật trong chiến thắng 30/4/1975 thống nhất đất nước.


Tro​ng gian trưng bày các hiện vật liên quan đến Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, có những hiện vật gắn với con số 30/4/1975. Trong ảnh là xe tăng T54b, số hiệu 843 của Đại đội 4, Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn 203, do trung úy, Đại đội trưởng Bùi Quang Thận chỉ huy, dẫn đầu đội hình thọc sâu của Quân đoàn 2, đánh chiếm phủ Tổng thống chính quyền Sài Gòn cũ vào trưa 30/4/1975.
Xe Jeep thu tại Sân bay Đà Nẵng ngày 29/3/1975. Đại úy Phạm Xuân Thệ, Trung đoàn phó Trung đoàn 66 cùng đồng đội đã sử dụng xe này tiến vào dinh Độc lập trưa ngày 30/4/1975 và đưa Dương Văn Minh (Tổng thống chính quyền Sài Gòn cũ) sang Đài phát thanh Sài Gòn đọc lời tuyên bố đầu hàng, kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975).

Bút tích lời tuyên bố đầu hàng không điều kiện của ông Dương Văn Minh.

Loa phóng thanh do Trương Tấn Sỹ, Chính trị viên huyện đội Phú Quốc (Kiên Giang), gắn trên xe zeep, cùng 8.000 bà con nhân dân tiến vào giải phóng thị trấn Dương Đông ngày 30/4/1975.
Mũ tai bèo, túi, áo cứu thương do chị Nguyễn Thị Trung Kiên, thuộc đội 18 Biệt động Sài Gòn sử dụng khi dẫn đường cho xe tăng và bộ binh Trung đoàn 1, Sư đoàn 10, đánh chiếm trại Hoàng Hoa Thám, sân bay Tân Sơn Nhất sáng 30/4/1975.

Cờ chính quyền Sài Gòn cũ thu tại dinh Tổng thống.

Súng ngắn Browning của Tổng thống Dương Văn Minh, do Đại úy Phạm Xuân Thệ, Trung đoàn phó Trung đoàn 66 (Sư đoàn 304) thu trưa ngày 30/4/1975.

Máy bay tiêm kích bom F-5 của ngụy, bị quân giải phóng miền Nam Việt Nam thu được tại sân bay Biên Hòa, ngày 30/4/1975.

Máy bay trực thăng vận tải CH-47 Chinook bị quân giải phóng miền Nam Việt Nam thu được tại sân bay Tân Sơn Nhất, cũng trong ngày 30/4/1975.
 
Back To Top
Copyright © 2014 LE HOI. Designed by OddThemes